Năm ấy, tôi trở lại Huế đúng vào cuối mùa điệp. Những chùm hoa đã bắt đầu thưa. Gió từ sông thổi qua, cánh vàng rơi lả tả xuống mặt đường ướt mưa. Tôi xuống Huế để dự đám cưới của một người bạn cũ thời đại học. Sau hơn mười năm dạy học ở miền núi, đây là lần đầu tôi quay lại thành phố này.

Buổi chiều, sau tiệc cưới, tôi đi bộ dọc đường Lê Lợi như một thói quen cũ. Thành phố dường như không có nhiều thay đổi. Tôi ghé vào một quán cà phê nhỏ bên bờ sông. Vừa ngồi xuống, tôi nghe tiếng ai đó phía sau:

- Anh vẫn uống cà phê đen, không đường à?

Tôi giật mình quay lại. Một người phụ nữ đang đứng cạnh quầy pha chế, tay cầm chiếc ô còn đọng nước mưa. Tôi thoáng nhìn rồi lại cúi xuống ly cà phê, nghĩ chắc ai đó nhận nhầm người. Nhưng ngay khi nghe tiếng cô gái phục vụ hỏi nhỏ: “Chị vẫn ngồi bàn cũ bên cửa sổ hả chị Nguyên?”, thì tôi ngẩng phắt lên lần nữa. Người phụ nữ ấy cũng vừa quay sang phía tôi. Mái tóc cắt ngắn, gương mặt gầy, và tôi đã kịp nhận ra đôi mắt dịu dàng và sâu lắng như dòng Hương vào những chiều cuối hạ.

Chiếc thìa nhỏ trong tay tôi khẽ chạm vào thành cốc. Tôi đứng bật dậy nhanh đến mức chiếc ghế phía sau xê mạnh trên nền gạch.

- Nguyên…?

Tôi gọi khẽ. Nguyên nhìn tôi vài giây rồi mỉm cười. Tôi đứng lặng giữa quán cà phê, bàn tay vô thức siết chặt ly cà phê đã nguội tự lúc nào…

*     *      *

Mười ba năm không gặp, người con gái từng đi qua tuổi trẻ của tôi bỗng xuất hiện trong một mùa điệp vàng đã gần tàn phai.

Lúc này, tôi mới đủ bình tâm để nhìn kỹ Nguyên hơn. Vẫn dáng người mảnh mai ấy. Vẫn thói quen đưa tay vuốt nhẹ tóc mỗi khi ngại ngùng. Chỉ có thời gian đã phủ lên gương mặt cô một vẻ trầm lặng khác xưa. Kỳ lạ thay, càng trưởng thành, Nguyên lại càng giống những mùa điệp vàng ở Huế - dịu dàng, kín đáo mà khiến người ta nhớ mãi.

Khoa tôi năm ấy làm báo tường dự thi. Đám con trai học sử viết chữ xấu như gà bới nên cuối cùng tôi bị đẩy sang khoa văn “xin người cứu viện”. Tôi vẫn nhớ chiều hôm đó Huế vừa có một cơn mưa bất chợt. Dãy hành lang còn ngai ngái mùi nước ẩm. Trong căn phòng cuối tầng hai, một cô gái đang ngồi bên cửa sổ, cúi đầu pha màu. Mái tóc dài còn vương vài giọt mưa rơi xuống vai áo trắng. Người ấy là Nguyên. Lúc ôm tấm bìa báo chạy vào, vì vội quá, tôi va trúng cô. Cả hai cùng loạng choạng. Hộp màu trên tay Nguyên rơi xuống nền gạch, thứ nước màu vàng óng đổ loang lên chiếc áo sơ mi trắng của tôi.

Nguyên cuống quýt đến đỏ cả mặt:

- Em xin lỗi… em không cố ý…

Nhìn gương mặt cô lúc ấy đỏ bừng vì cuống, tôi bỗng bật cười:

- May mà không phải màu đỏ, không chắc người ta tưởng tôi bị đâm trúng tim.

Nguyên cũng phì cười theo. Đó là lần đầu tiên tôi thấy đôi mắt một người con gái có thể sáng đến vậy giữa một chiều mưa Huế âm u. Sau hôm ấy, chúng tôi quen nhau. Ban đầu chỉ là những lần sang khoa văn “nhờ viết giúp vài dòng tiêu đề”. Rồi thành những buổi ngồi ở thư viện đến tối muộn. Có hôm mất điện, cả hai ôm sách ra ngồi dưới hành lang ký túc xá đọc nhờ ánh đèn đường vàng nhạt.

Hồi ấy nghèo thật. Tôi đi dạy thêm lịch sử cho mấy học sinh cấp ba. Nguyên nhận chép bản thảo thuê cho một tiệm photocopy gần chợ Đông Ba. Nhiều hôm cuối tháng, hai đứa vét túi chỉ đủ mua một ổ bánh mì và hai ly trà đá. Huế những năm ấy chậm và buồn, nhưng tình yêu của tuổi hai mươi lại khiến mọi thứ trở nên đẹp đến nao lòng. Chiều nào tan học, tôi cũng chở Nguyên trên chiếc xe đạp cũ dọc bờ sông Hương.

Có lần đi ngang con đường đầy hoa điệp vàng gần Trường Quốc Học, cô bất ngờ bảo:

- Dừng xe đi anh.

Tôi thắng lại. Nguyên chạy tới nhặt một chùm hoa vừa rơi xuống, nâng niu như sợ cánh mỏng sẽ nát trong tay.

- Em thích điệp vàng lắm.

- Vì đẹp à?

Nguyên lắc đầu:

- Vì nó giống tình yêu thật lòng.

- Sao lại giống?

Cô nhìn lên những tán hoa vàng rực trong nắng chiều:

- Không “ồn ào”, rực rỡ như phượng. Nhưng cứ âm thầm cháy hết mùa hè.

Nói rồi cô cài luôn một chùm hoa lên giỏ xe của tôi. Gương mặt đỏ lên vì ngượng. Đó là lần đầu tiên tôi biết mình yêu một người nhiều đến thế…

*     *     *

Thời gian trôi rất nhanh. Tôi ra trường trước Nguyên một năm. Ngày nhận quyết định lên một huyện miền núi dạy học, tôi vừa mừng vừa lo. Ba mất sớm, tôi là con trai cả, dưới còn hai em đang đi học, mẹ lại quanh năm đau yếu. Với tôi lúc ấy, có một công việc ổn định đã là điều không thể chọn lựa khác. Một năm sau, Nguyên cũng tốt nghiệp. Cô được giữ lại Huế làm biên tập viên cho nhà xuất bản - công việc mà cô từng mơ ước.

Ngày nhận quyết định lên huyện miền núi dạy học, tôi giấu Nguyên đến tận phút cuối. Hôm ấy trời mưa rất lớn. Nguyên đứng dưới mái hiên ký túc xá nhìn tôi, mắt đỏ hoe:

- Sao anh không nói sớm với em?

Tôi cười gượng:

- Anh sợ em buồn.

- Còn bây giờ thì em không buồn chắc?

Tôi im lặng. Nguyên bỗng lấy trong túi áo ra một cánh điệp vàng đã ép khô, đặt vào tay tôi:

- Nếu sau này nhớ em quá… thì nhìn cái này.

Tôi nắm chặt cánh hoa mỏng manh ấy mà thấy lòng mình đau như bị ai bóp nghẹn.

Ngày tôi rời Huế, Nguyên không ra bến xe tiễn. Mãi sau này tôi mới biết, cô đã đứng rất lâu dưới một gốc điệp vàng gần cầu Trường Tiền, nhìn theo chuyến xe khách chạy khỏi thành phố trong mưa…

*    *    *

Năm tôi hai mươi chín tuổi, Nguyên gọi điện báo sắp cưới.

Hôm ấy ngoài sân trường, điệp vàng rơi kín lối đi. Tôi đứng dưới hàng cây mà không đủ can đảm nói một câu giữ cô lại. Tôi cũng không vào Huế dự đám cưới. Sau này, nhiều đêm nằm nghe mưa rừng, tôi vẫn nghĩ: Có lẽ đời người tiếc nuối nhất không phải là mất nhau, mà là đã từng có thể ở lại bên nhau nhưng lại im lặng.

Buổi gặp lại hôm ấy kéo dài đến tận chiều muộn. Chúng tôi nói đủ thứ chuyện vụn vặt: công việc, học trò, bạn cũ. Tuyệt nhiên không ai nhắc đến cuộc hôn nhân của Nguyên. Cho đến lúc ra về, cô mới khẽ nói:

- Em ly hôn rồi.

Tôi sững người. Nguyên nhìn ra xa, nở nụ cười nhẹ bẫng:

- Gần ba năm nay.

Gió từ sông Hương thổi qua làm những cánh hoa cuối mùa bay đầy trên mặt bàn.

Tôi không biết phải nói gì. Nguyên lại bình thản:

- Có những người thương nhau thật lòng… nhưng chỉ đi cùng nhau được một quãng thôi anh ạ.

Sau hôm ấy, tôi ở lại Huế thêm vài ngày. Ngày nào Nguyên cũng dẫn tôi đi qua những con đường cũ. Có hôm ngồi dưới chân cầu Trường Tiền nghe mưa. Có hôm lang thang trong Đại Nội lúc chiều xuống. Chúng tôi giống hai người bạn cũ hơn là hai người từng yêu. Nhưng chính sự dịu dàng ấy lại khiến lòng tôi day dứt.

Một hôm, giữa cơn mưa đầu hạ, Nguyên bất ngờ hỏi:

- Hồi đó… vì sao anh không giữ em lại?

Tôi nhìn mặt sông loang loáng nước rồi cười buồn:

- Vì anh nghĩ mình nghèo quá.

Nguyên im lặng rất lâu. Rồi cô nói:

- Em đã chờ… trước ngày cưới, em đã chờ anh xuống Huế. Chỉ cần anh nói một câu thôi…

Tôi thấy tim mình như có cái gì đó bóp thắt lại.

Ngoài kia, điệp vàng rơi đầy mặt nước…

*     *     *

Chiều cuối cùng ở Huế, tôi định ra ga thì người bạn cũ gọi giật lại, bảo ghé qua nhà hàng ven sông lấy giúp ít đồ cưới còn để quên.

Trời lất phất mưa. Khi tôi đến nơi, sảnh tiệc đã gần tắt đèn. Giữa căn phòng rộng là một chậu điệp vàng nhỏ, những cánh hoa rơi đầy quanh chân ghế. Tôi vừa định quay đi thì nghe tiếng piano rất khẽ phía cuối sảnh. Nguyên ngồi đó. Cô mặc chiếc áo dài màu vàng nhạt, mái tóc buông xuống vai. Trước mặt là chiếc hộp gỗ nhỏ mà tôi nhận ra ngay - chiếc hộp năm xưa tôi từng tặng cô để đựng bản thảo.

Thấy tôi, Nguyên hơi sững lại. Rồi cô cười, mát như một cơn mưa Huế:

- Em biết thể nào anh cũng ghé qua đây.

Tôi bước đến gần hơn. Trong hộp là cánh điệp vàng đã ép khô từ mười mấy năm trước. Mặt sau còn nguyên hàng chữ nguệch ngoạc thời sinh viên: “Đợi mùa điệp sau nhé”.

Ngoài hiên, những cánh điệp cuối mùa vẫn lặng lẽ rơi trong mưa…

Nguyễn Đình Ánh