Ảnh minh họa 

Tiềm năng lớn

Khung khổ thể chế và các quyết sách nền tảng chính là việc xây dựng và triển khai Kế hoạch hành động ASEAN về KHCN và ĐMST (APASTI) giai đoạn 2026 - 2035, đặt ra lộ trình rõ ràng nhằm đưa ASEAN trở thành một khu vực đổi mới sáng tạo năng động, nơi mà STI được tích hợp sâu sắc vào các chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Đặc biệt, tại Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 22 về KHCN và ĐMST dưới sự chủ trì của nước chủ nhà Lào, các nước thành viên đã thông qua một quyết định có ý nghĩa lịch sử đối với bộ máy vận hành: cải tổ toàn diện Ủy ban KHCN và ĐMST ASEAN. Song song đó, hai sáng kiến kinh tế ưu tiên năm 2026 do Philippines dẫn đầu đã đạt được những tiến triển vượt bậc, bao gồm: Tuyên bố ASEAN về thúc đẩy hợp tác trong KHCN và ĐMST không gian và Chương trình khu vực về ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực y tế.

Những quyết sách này cho thấy, ASEAN không còn đi sau thời đại, mà đang chủ động tiếp cận các công nghệ mang tính dẫn dắt của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư.

Sự đồng thuận về mặt chính trị đã mang lại những “trái ngọt” cụ thể, tạo ra sự thay đổi rõ rệt trong bức tranh công nghệ khu vực, đó là:

Sự trỗi dậy của hạ tầng tính toán hiệu năng cao: Một trong những thành tựu kỹ thuật đáng tự hào là việc đưa vào vận hành Trung tâm siêu máy tính ASEAN - Hàn Quốc đặt tại Indonesia. Việc tiếp cận hạ tầng siêu máy tính này giúp các nhà khoa học trong khu vực xử lý các bài toán lớn về dự báo biến đổi khí hậu, mô phỏng sinh học và thiết kế vi mạch - những việc mà một quốc gia đơn lẻ có tiềm lực tài chính vừa phải khó lòng tự gánh vác.

Cơ chế tài chính đã có đột phá. Hội nghị Bộ trưởng ASEAN lần thứ 22 về KHCN và ĐMST đã chính thức kích hoạt đợt kêu gọi đề xuất dự án từ Quỹ KHST và ĐMST ASEAN với chủ đề đặc biệt: “Thách thức lớn ASEAN: Khu vực tự cường và cạnh tranh dựa trên năng lực AI” (ASEAN Grand Challenge: AI-Enabled Competitive and Resilient Region). Đây là bước đi cụ thể nhằm chuyển dòng vốn đầu tư chung vào việc giải quyết các thách thức mang tính sống còn của toàn khu vực bằng công nghệ trí tuệ nhân tạo.

Hợp tác sâu rộng với các đối tác đối thoại: ASEAN đã phát huy rất tốt vai trò trung tâm để thu hút nguồn lực từ bên ngoài. Các cơ chế như Ủy ban Hợp tác hỗn hợp KHCN ASEAN - Trung Quốc (ACJSTIC-13), ASEAN - Nhật Bản (AJCCST-15) và ASEAN - Hàn Quốc (AKJSTIC-7) tổ chức vào tháng 6/2026 đã tái khẳng định cam kết tài trợ hàng triệu USD cho các chương trình nghiên cứu chung về năng lượng sạch, vật liệu tiên tiến (vật liệu nano, vật liệu sinh học y tế), nông nghiệp thông minh thích ứng biến đổi khí hậu và chuyển giao công nghệ lõi.

Là một thành viên có trách nhiệm và năng động, Việt Nam (đại diện bởi Bộ Khoa học và Công nghệ tại AMMSTI-22) đã khẳng định sự ủng hộ tuyệt đối đối với lộ trình APASTI 2026 - 2035. Việt Nam không chỉ chia sẻ kinh nghiệm điều hành mà còn đưa ra các kiến nghị mang tính dẫn dắt về việc xây dựng khung khổ pháp lý chung toàn khu vực (Common Regional Frameworks) cho các công nghệ chiến lược mới nổi như AI, dữ liệu lớn (Big Data), an ninh mạng và công nghệ không gian tầm thấp (UAV sandboxes). Điều này góp phần tạo ra một môi trường kinh doanh số an toàn, bảo vệ chủ quyền số của toàn khối.

Vấn đề cần giải quyết

Dù tiềm năng và quyết tâm chính trị rất lớn, song thực tế triển khai các chương trình hợp tác STI trong nội khối ASEAN đang phải đối mặt với những “lực cản” thâm căn cố đế. Nếu không thẳng thắn nhìn nhận và giải quyết dứt điểm, các kế hoạch hành động nguy cơ sẽ dừng lại ở mức những bản tuyên bố mang tính nghi thức. Những rào cản đó là:

Thứ nhất, khoảng cách phát triển công nghệ quá lớn (Tech Divide). ASEAN là một trong những khối có sự phân hóa nội tại sâu sắc nhất thế giới. Ở một cực, Singapore là trung tâm ĐMST hàng đầu thế giới với hạ tầng số hoàn thiện, chi tiêu cho R&D (Nghiên cứu và Phát triển) vượt mức 2% GDP. Ở nhóm giữa như Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia, năng lực công nghệ đang phát triển mạnh mẽ nhưng vẫn đang trong quá trình chuyển đổi, loay hoay vượt qua bẫy thu nhập trung bình và phụ thuộc nhiều vào chuyển giao công nghệ từ nước ngoài. Ở cực còn lại, các quốc gia như Lào, Campuchia và Myanmar vẫn đang gặp rất nhiều khó khăn về hạ tầng cơ bản, mạng lưới internet băng thông rộng chưa phủ khắp và tỷ lệ mù chữ kỹ thuật số còn cao.

Sự chênh lệch này dẫn đến hệ quả là rất khó tìm được tiếng nói chung trong các dự án hợp tác.

Thứ hai, là sự nghèo nàn và phân mảnh của nguồn vốn R&D nội khối. Ngoại trừ Singapore và phần nào là Malaysia, tỷ lệ chi tiêu cho R&D tính trên GDP của đa số các nước ASEAN còn lại đều ở mức rất thấp (thường dưới 0,5% GDP, thậm chí có nước dưới 0,1%). Quỹ ASTIF của khối mặc dù đóng vai trò mồi giữ, nhưng quy mô thực tế còn quá nhỏ so với nhu cầu khổng lồ của các dự án nghiên cứu quy mô khu vực. Hơn thế nữa, cơ chế thu hút vốn khu vực tư nhân (Private Sector) tham gia vào các dự án nghiên cứu chung của ASEAN còn rất lỏng lẻo. Thiếu các quỹ đầu tư mạo hiểm xuyên biên giới được bảo trợ bởi luật pháp chung của khối khiến các startup công nghệ trong khu vực gặp khó khăn khi muốn gọi vốn để mở rộng quy mô từ quốc gia này sang quốc gia khác trong khối.

Thứ ba, là rào cản pháp lý và thiếu hụt cơ chế chia sẻ dữ liệu xuyên biên giới. Dữ liệu được ví như “dầu mỏ mới” của nền kinh tế số, là nguyên liệu thô để huấn luyện các mô hình AI và vận hành các hệ thống tự động hóa. Việc thiếu một cơ chế an toàn và thống nhất để chia sẻ dữ liệu phi cá nhân đang làm nghẽn mạch các nghiên cứu khoa học chung. Các nhà khoa học không thể tối ưu hóa mô hình AI dự báo bão hay dịch bệnh cho toàn khu vực nếu dòng chảy dữ liệu bị chặn lại ở biên giới mỗi quốc gia.

Thứ tư, là thách thức về nguồn nhân lực và hiện tượng “chảy máu chất xám”. Dù sở hữu cơ cấu dân số trẻ, nhưng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các ngành kỹ thuật mũi nhọn (STEM) của đa số các nước ASEAN chưa đáp ứng được tốc độ phát triển của công nghệ. Nghiêm trọng hơn, hiện tượng “chảy máu chất xám” nội khối và ngoại khối đang bào mòn năng lực sáng tạo của các nước đi sau. Nhân tài công nghệ hàng đầu của Việt Nam, Indonesia hay Philippines có xu hướng dịch chuyển sang Singapore để hưởng mức lương cao và môi trường làm việc tốt hơn, hoặc rời hẳn khu vực sang Mỹ, Nhật Bản, châu Âu. Điều này vô hình trung làm trầm trọng thêm khoảng cách công nghệ nội khối…

ASEAN là một trong những khu vực chịu tổn thương nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu, nhưng đồng thời cũng là nơi có tiềm năng lớn nhất về năng lượng tái tạo. Các nước trong khối có thể bắt tay nghiên cứu sâu về công nghệ sinh học (Biotechnology) ứng dụng trong xử lý rác thải nông nghiệp thành năng lượng sinh học (biofuels), phát triển các loại vật liệu sinh học mới từ nguồn tài nguyên phong phú của vùng nhiệt đới nhằm thay thế nhựa dùng một lần. Đây chính là con đường giúp các quốc gia thực hiện cam kết Net Zero (phát thải ròng bằng 0) mà không phải đánh đổi bằng việc đình trệ tăng trưởng kinh tế.

Biết rằng những vướng mắc về khoảng cách công nghệ, rào cản dữ liệu hay điểm nghẽn tài chính vẫn là những bài toán hóc búa cần nhiều thời gian để hóa giải, nhưng những cơ hội chiến lược mang lại từ làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng công nghệ cao và nhu cầu chuyển đổi xanh đang mở ra cho ASEAN một không gian phát triển rộng lớn chưa từng có.

Bằng cách kiên trì mục tiêu, lấy sự hài hòa pháp lý làm nền tảng, lấy hợp tác công - tư làm động lực và đặt con người - thế hệ trẻ sáng tạo của ASEAN - vào trung tâm của mọi chiến lược, khối hoàn toàn có thể tự tin biến Đông Nam Á thành một cái nôi đổi mới sáng tạo toàn cầu. Một ASEAN tự cường, thịnh vượng và có năng lực cạnh tranh vượt trội trong tương lai chắc chắn phải là một ASEAN được định hình bằng sức mạnh của tri thức, khoa học và công nghệ đột phá.

Nam Hải (Tổng hợp) - Ảnh: nhandan.vn