Doanh nghiệp tham gia quảng bá sản phẩm số

Lệch pha

Trong bối cảnh nền kinh tế đang tái định hình, chuyển đổi kép (xanh - số) không chỉ là lựa chọn mang tính chiến lược dài hạn, mà đã trở thành tất yếu đối với mọi quốc gia, địa phương và DN.

Tại thành phố Huế, chuyển đổi kép được định hình dựa trên triết lý phát triển bền vững: Lấy bảo tồn di sản, bản sắc văn hóa và hệ sinh thái tự nhiên làm nền tảng; lấy chuyển đổi số làm công cụ đột phá. Trong mô hình này, chính quyền quản trị dựa trên dữ liệu để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách và DN trở thành động lực chính. Họ là chủ thể ứng dụng công nghệ để xanh hóa quy trình sản xuất, kinh doanh, tạo ra những giá trị kinh tế mới phù hợp với định hướng của thành phố.

Theo ông Cung Trọng Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển, DN không thể “xanh hóa” nếu thiếu đi các công cụ “số hóa”, bởi lẽ chỉ có công nghệ giúp đo lường, giám sát chính xác từng nguồn lực tiêu hao và minh bạch hóa chuỗi cung ứng. Ngược lại, mục tiêu phát triển bền vững chính là “chiếc la bàn” giúp các dự án công nghệ không bị sa đà vào lãng phí, đồng thời là “tấm hộ chiếu xanh” để DN tiếp cận nguồn tín dụng ưu đãi và giữ chân người tiêu dùng hiện đại. Việc chủ động kết hợp song hành giữa “số” và “xanh” chính là con đường tất yếu để DN bứt phá, tối ưu hóa chi phí và bảo đảm phát triển bền vững.

Tại hội thảo tham vấn hoàn thiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) do Cục Phát triển DN tư nhân và Kinh tế tập thể (Bộ Tài chính) tổ chức tại thành phố Huế gần đây, TS. Huỳnh Anh Tuấn, chuyên gia tư vấn vận hành hoạch định nguồn lực DN chỉ ra thực trạng chuyển đổi số - xanh vẫn có sự lệch pha rất lớn, nhất là ở nhóm DNNVV. Trong khi chuyển đổi số có nền tảng tương đối tốt với 78% DNNVV đã quen thuộc và sử dụng các phần mềm quản lý cơ bản, thì chuyển đổi xanh lại đang đi sau một khoảng cách khá dài khi chỉ có 31% DN thực hiện đo lường năng lượng định kỳ. Với nhóm DNNVV, chuyển đổi xanh vẫn bị coi là gánh nặng chi phí.

Sự lệch pha này dẫn đến tình trạng DN muốn chuyển đổi nhưng bị kìm hãm bởi “vòng xoáy” của những áp lực ngắn hạn. Những con số do TS. Huỳnh Anh Tuấn đưa ra phần nào cho thấy những nút thắt nội tại trong bản thân DN khi có đến 60,8% DN chưa hiểu rõ chuyển đổi kép là gì; 50,7% DN thiếu vốn; 55,1% DN thiếu chi phí đầu tư công nghệ; 60,9% DN không tiếp cận được thông tin tư vấn và có tới 37,7% DN lựa chọn mục tiêu ngắn hạn thay vì đầu tư dài hạn cho môi trường.

 Cơ chế vận hành giảm tiết kiệm chi phí, năng lượng tại Nhà máy Bia Carlsberg

Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ

Để thúc đẩy chuyển đổi kép một cách cân bằng, nhiều quốc gia trên thế giới đã áp dụng nguyên tắc tích hợp từ thiết kế, phân tầng trong triển khai và đo lường bằng kết quả. Các quốc gia đều lồng ghép trực tiếp các mục tiêu xanh vào chương trình nâng cấp số hóa quốc gia, không tách rời 2 cấu phần này thành hai luồng độc lập. Song tại Việt Nam, chính sách thúc đẩy chuyển đổi lại có khoảng cách lớn về phân mảng, thiếu tích hợp do nhiều bộ, ngành quản lý riêng rẽ. Cơ chế tài chính chưa phù hợp khi đòi hỏi thế chấp phức tạp khiến 84% DN chưa nhận được hỗ trợ. Chính sách cào bằng, không phân tầng giữa DN siêu nhỏ và DN quy mô vừa làm giảm khả năng tiếp cận của nhóm đối tượng này.

Chính sách thúc đẩy chuyển đổi xanh - số tại Việt Nam nói chung và thành phố Huế nói riêng không hề thiếu nhưng lại thiếu một cách thức vận hành chính sách đồng bộ.

Theo TS. Huỳnh Anh Tuấn, đơn giản hóa thủ tục và minh bạch thông tin là điều kiện tiên quyết mà 58% DN mong mỏi. Chính sách mới cần xây dựng cơ chế “Một cửa điện tử” dành riêng cho DNNVV, chuẩn hóa hồ sơ hỗ trợ theo từng ngành và công khai minh bạch toàn bộ tiêu chí xét duyệt. Công cụ tài chính phải được thiết kế theo hướng trực tiếp và linh hoạt, dịch chuyển từ cơ chế cho vay truyền thống sang các hình thức linh hoạt hơn như: Cơ chế đồng tài trợ cho các dự án đầu tư số - xanh; cấp phát voucher tư vấn/đào tạo và áp dụng cơ chế tín dụng ưu đãi hoặc bảo lãnh vay vốn thay thế cho tài sản thế chấp.

Hệ sinh thái tư vấn hỗ trợ phải được xây dựng theo mô hình “cầm tay chỉ việc” bởi thực tế chứng minh 40,6% DN có sự đồng hành của chuyên gia đã cải thiện rõ rệt năng lực quản trị. Nhà nước cần chuẩn hóa và hỗ trợ một phần chi phí cho mạng lưới tư vấn, tổ chức trung gian, các viện, trường; áp dụng cơ chế chi trả ngân sách gắn liền với kết quả đầu ra thực tế của DN; bố trí ngân sách hỗ trợ tài chính cho công tác đào tạo chuyển đổi kép.

Chính sách phải được phân tầng theo mức độ sẵn sàng, không hỗ trợ cào bằng mà phải chia theo 4 cấp độ trưởng thành của DN. Trong đó, nhóm khởi đầu tập trung đào tạo nhận thức, tư vấn chẩn đoán miễn phí và cấp voucher trải nghiệm giải pháp; nhóm hình thành sẽ tập trung hỗ trợ vốn theo tỷ lệ đồng tài trợ, tư vấn áp dụng các tiêu chuẩn xanh cơ bản; nhóm phát triển được tài trợ sâu để tích hợp toàn diện hệ thống số và xanh, hỗ trợ đạt chứng nhận ESG (tiêu chuẩn đo lường mức độ phát triển bền vững); nhóm dẫn dắt sẽ áp dụng ưu đãi thuế dựa trên hiệu suất giảm phát thải thực tế, hỗ trợ hoạt động R&D (nghiên cứu và phát triển) và kết nối mạng lưới thương mại toàn cầu.

Đồng quan điểm, GS.TS. Trần Thọ Đạt, Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, thể chế và quản trị đóng vai trò điều phối toàn bộ hệ thống. Đây là yếu tố quyết định sự thành công của mô hình bởi nếu thiếu một cơ chế điều phối hiệu quả, các trụ cột còn lại sẽ hoạt động rời rạc.

Trong mô hình này, chính quyền không chỉ thực hiện chức năng quản lý mà còn đóng vai trò “kiến trúc sư hệ sinh thái”. Thông qua việc xây dựng chính quyền số, dữ liệu sẽ là cơ sở ra quyết định và thiết kế các chính sách tích hợp giữa số và xanh, từ đây, chính quyền có thể điều phối các nguồn lực một cách hiệu quả. Đặc biệt, việc tích hợp chính sách chuyển đổi số và chính sách môi trường trong cùng một khung chiến lược giúp giảm tình trạng chồng chéo, tạo ra các cơ chế khuyến khích đầu tư vào các lĩnh vực vừa có giá trị kinh tế, vừa có lợi ích môi trường. Khi hệ sinh thái đã hình thành, DN có thể tận dụng lợi thế đó để bứt phá.

Bài, ảnh: Hoàng Anh