 |
| Bên trong kho mộc bản Triều Nguyễn ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia IV đóng tại Đà Lạt |
Mộc bản Triều Nguyễn là loại hình tài liệu đặc biệt về hình thức, nội dung và phương thức chế tác; là bản gốc của các bộ chính văn, chính sử nổi tiếng của Việt Nam được biên soạn, khắc in chủ yếu dưới Triều Nguyễn. Mộc bản được hình thành chủ yếu bằng kỹ thuật khắc ngược ký tự Hán Nôm trên gỗ để in ra sách được sử dụng phổ biến trong thời kỳ phong kiến và còn lưu giữ được đến ngày nay.
Năm Nhâm Tuất (1802), các vua nhà Nguyễn đã đặc biệt chú trọng đến việc biên soạn lịch sử, bởi thông qua sử học có thể ổn định xã hội, cố kết nhân tâm, từ đó củng cố, nâng cao vai trò dòng tộc cũng như vị trí của vương triều.Năm Tân Mùi (1811), Vua Gia Long đã cho thành lập Sử cục, cơ quan tiền thân của Quốc Sử quán, đồng thời xuống chiếu: “Nay soạn Quốc triều thực lục, phàm sự tích cũ cần phải tìm xét rộng rãi để sẵn mà tham khảo”.
Đến năm Canh Thìn (1820), ngay sau khi lên ngôi, Vua Minh Mạng đã xuống chiếu cho tìm sách vở còn sót lại và thành lập Quốc Sử quán. Cơ quan này được giao trọng trách thực hiện việc biên soạn, khắc in và bảo quản các bộ chính sử, chính văn của triều đình. Trong hơn 100 năm tồn tại, Quốc Sử quán đã biên soạn được nhiều bộ sách có giá trị như Đại Nam thực lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí, Minh Mệnh chính yếu và rất nhiều tác phẩm sử học khác.
Khối mộc bản Triều Nguyễn hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV gồm 33.976 tấm, được tạm chia thành hơn 100 đầu sách với nhiều chủ đề như: lịch sử, địa lý, chính trị - xã hội, quân sự, pháp chế, văn hóa - giáo dục, tôn giáo - tư tưởng - triết học, ngôn ngữ - văn tự, văn thơ. Đây là nguồn sử liệu tin cậy, còn khá nguyên vẹn để khảo cứu, đối chiếu, phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam trên nhiều lĩnh vực.
Nơi bảo quản tài liệu mộc bản được khởi công xây dựng trên một quả đồi thuộc quần thể khu biệt điện Trần Lệ Xuân. Vị trí này địa thế cao, thuận tiện giao thông, có địa chất ổn định, thoát nước nhanh, không ở gần các khu vực dễ xảy ra cháy nổ, ô nhiễm. Nhà kho được thiết kế 2 lớp tường bảo vệ, dưới dạng kho trong kho.
Ngược dòng lịch sử, lý do di chuyển mộc bản từ Huế lên Đà Lạt vào năm 1960 được Viện Bảo tàng Huế (nơi lưu giữ Mộc bản khi đó) cho rằng: “Với khí hậu khô ráo quanh năm của Đà Lạt, sách vở và sử liệu, nhất là mộc bản có thể được bảo tồn lâu dài”. Quá trình di chuyển vô cùng công phu, phải thực hiện nhiều lần mới hoàn thành.
Tài liệu mộc bản Triều Nguyễn hiện nay đang bảo quản tại các phòng kho lưu trữ chuyên dụng của Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV. Toàn bộ được sắp xếp trên kệ, cố định vị trí bằng các tấm đỡ tài liệu. Mộc bản được chỉnh lý theo chủ đề như lịch sử, địa lý, văn hóa, quân sự… Bên trong kho bảo quản được trang bị máy đo nhiệt độ, độ ẩm để kiểm tra, theo dõi, kiểm soát tối ưu nhằm kéo dài tuổi thọ cho khối tài liệu.
Những hình ảnh bên trong kho mộc bản Triều Nguyễn:
 |
| Khối mộc bản Triều Nguyễn hiện đang bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV gồm 33.976 tấm |
 |
| Các mộc bản được chia thành nhiều loại đầu sách liên quan đến lịch sử, địa lý, chính trị - xã hội, quân sự, pháp chế, văn hóa - giáo dục, tôn giáo - tư tưởng - triết học, ngôn ngữ - văn tự, văn thơ |
 |
| Các tấm mộc bản được phân loại, đánh số ký hiệu để bảo quản |
 |
| Mộc bản Triều Nguyễn là loại hình tài liệu đặc biệt về hình thức, nội dung và phương thức chế tác |
 |
| Mộc bản được hình thành chủ yếu bằng kỹ thuật khắc ngược ký tự Hán Nôm trên gỗ để in ra sách được sử dụng phổ biến trong thời kỳ phong kiến |
 |
| Du khách tham quan không gian trưng bày bày với các phương tiện ứng dụng công nghệ hiện đại |
 |
| Trên mỗi kệ lưu trữ mộc bản được đánh số kệ cùng với chủ đề kèm theo |
 |
| Mộc bản Triều Nguyễn là nguồn sử liệu tin cậy, còn khá nguyên vẹn để khảo cứu, đối chiếu, phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam trên nhiều lĩnh vực |
 |
| Biệt điện Trần Lệ Xuân nơi lưu trữ kho mộc bản Triều Nguyễn |
Đ. ĐÔNG - N. MINH