Nếu như Bao Vinh từng là một thương cảng quốc tế sầm uất, hiện thân của một đô thị cổ theo kết cấu "làng trong phố " đầy phóng khoáng, nơi chứng kiến sự giao thoa, tiếp biến ngoạn mục giữa văn hóa bản địa với các thương nhân Hoa kiều, Nhật Bản và phương Tây, thì Thế Lại Thượng lại mang dáng dấp trầm mặc của một vùng nội đồng “dĩ nông vi bản” với am Thần Nông - bà Mẹ Lúa là nơi tụ thủy thiêng liêng cận kề chốn vương phủ. Ngôi làng cổ ấy không chỉ khắc sâu dấu ấn chính trị qua những trang sử vàng mở cõi, điển tích "mỹ nhân kế" ly kỳ thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng, nhường đất xây dựng Kinh Thành thời Gia Long, mà còn lưu giữ các thiết chế tâm linh, hương ước nghiêm cẩn của một làng quê điển hình chốn Kinh kỳ.

Hòa quyện giữa một Bao Vinh năng động hướng biển và một Thế Lại Thượng thâm nghiêm, nghĩa tình, hai ngôi làng cổ chính là chiếc gương soi chiếu diện mạo đa sắc của văn hóa cố đô, nơi quá khứ huy hoàng vẫn được nuôi dưỡng, trao truyền, âm thầm chảy trong lòng đời sống đương đại.

1. Bao Vinh: đô thị cảng cổ "làng trong phố " vang bóng một thời

Bao Vinh được thành lập từ đầu thế kỷ XXI (niên hiệu Nguyên Hòa - vua Lê Trang Tông), lưu dấu công lao khai hoang lập ấp của ngài Tiền khai  canh, ngài Bổn thổ Khai canh đều người họ Phạm từ Nam Định. Bao Vinh mang những nét đặc trưng vô cùng độc đáo.

Trước hết là sự kế tục vai trò lịch sử từ thương cảng Thanh Hà khi trở thành trạm trung chuyển của Kinh thành, diễn ra từ cuối thế kỷ XVIII, do biến động tự nhiên làm xuất hiện "Cồn Bút" (cồn Minh Hương) gây bồi lắng dòng sông, tàu thuyền lớn không thể cập bến Thanh Hà và Bao Vinh được chuyển giao. Từ đó, nhờ sở hữu địa thế lý tưởng "cận thị, cận giang, cận lộ, cận kinh", nhất là dòng sông Hương khúc này rất sâu nên Bao Vinh nhanh chóng kế thừa, hội tụ doanh nhân để trở thành thương cảng, kho chứa hàng thủy hải trình và trung tâm trung chuyển hàng hóa sầm uất nhất của đất Kinh kỳ thời Nguyễn suốt thế kỷ XIX.

Ở đây, cần chú ý mô hình mậu dịch đặc sắc "Thị trường đôi" và Chợ nổi sông Hương khi Bao Vinh hình thành một cấu trúc độc đáo với một chợ trên cạn - nơi lưu kho trung chuyển, một khu chợ nổi thực sự trên sông Hương phục vụ xuất nhập khẩu. Nơi đây trở thành điểm giao thương đa quốc gia náo nhiệt khi đón các thuyền mành khổng lồ từ Thượng Hải, Hải Nam (Trung Quốc), Nhật Bản, châu Âu, Java... mang theo tơ lụa, đồ sứ, thuốc Bắc, đồng thời thu gom thổ sản nổi tiếng như cau khô, tơ sống, quế, trầm hương… để xuất khẩu. Cảnh tượng ghe mành tấp nập, tiếng huyên náo đa phương ngữ tạo nên một hội chợ nổi rực rỡ ban ngày và nhộn nhịp, lung linh huyền ảo tận đêm khuya.

Sử sách ghi rõ mốc lịch sử quan trọng cuối năm 1672, chúa Nguyễn chính thức định ra thể lệ trạm đường thủy và đường bộ nhằm hoàn thiện hệ thống thông tin và vận tải khắp xứ sở. Trong quy hoạch chiến lược ấy, Bao Vinh đã được lựa chọn làm điểm khởi đầu - độ thứ nhất từ Bao Vinh đến Vân Quật - cho toàn bộ tuyến hành trình thủy lộ huyết mạch hướng ra phía Bắc, với độ 16 ở Hồ Xá trước khi chuyển tiếp lên đường bộ, với mỗi trạm đường thủy được cấp 4 chiếc thuyền, 6 phu chèo. Bao Vinh ở vị trí "Độ nhất" trong hệ thống thuỷ dịch trạm này minh chứng cho vai trò đầu mối giao thông đặc biệt quan trọng, là cửa ngõ xuất phát tiên phong kết nối Kinh thành với bên ngoài.

Sức mạnh văn hóa nội sinh và sự "Việt hóa" Hoa thương trở thành nét đặc trưng “làng trong phố”, giúp Bao Vinh phát triển song hành nhờ cả bộ phận thị dân kinh doanh buôn bán đa thành phần lẫn nhóm nông dân một làng quê nông nghiệp truyền thống. Về sau, thương nhân Việt dần chiếm ưu thế bởi nếu như ở các nơi, khi Hoa thương rời đi thì phố cảng suy tàn nhưng với Bao Vinh, khi Hoa thương chuyển dịch dần lên khu thị tứ Đông Ba - Gia Hội, thương nhân Việt đã vươn lên chi phối, duy trì sức sống nội thương mạnh mẽ. Đáng chú ý trong đời sống tín ngưỡng, khác với các khu phố Khách thông thường, Hoa thương ở Bao Vinh không lập riêng miếu Quan Thánh (Chùa Ông) hay Thiên Hậu (Chùa Bà) tại chỗ bởi họ nương tựa vào kiến trúc tâm linh đã có ở Thanh Hà và họ cũng đồng thời tương tác với không gian văn hóa bản địa, từ chùa làng ở phía Bắc đến đình làng ở phía Nam.

Nhờ vậy mà Bao Vinh mang dấu ấn kiến trúc đa dạng với những nhà rường cổ và Ki-ốt kiểu Pháp. Qua nhiều biến động lịch sử, nhất là sau biến cố thất thủ Kinh đô năm Ất Dậu - 1885, diện mạo kiến trúc còn lưu lại đến nay ở Bao Vinh vẫn rất độc đáo, với 14 ngôi nhà rường cổ đa dạng, tinh xảo; 7 ngôi nhà Tứ Giác kiểu Pháp có mái chóp tứ giác nằm sát mép sông, làm nổi bật tư duy quy hoạch phố chợ hướng sông rất đặc trưng ở xứ Huế.

2. Thế Lại Thượng: Ngôi làng của cựu thần khai quốc và dấu ấn lịch sử Kinh thành

Nằm kế cận khu vực vương phủ xưa, làng cổ Thế Lại Thượng mang những nét đặc thù đậm chất lịch sử chính trị và văn hóa tâm linh gắn liền với dòng chảy thăng trầm của các triều đại Đàng Trong. Đây là vùng đất lành được chọn làm phủ từ của hoàng tử cả Nguyễn Phúc Diễn, Thế tử, Chưởng dinh Phước Mỹ hầu - Phước quận công (1684), tam hoàng tử Nguyễn Phúc Trăn, Chưởng cơ, Cương quận công (1685).

Làng Thế Lại Thượng nổi tiếng với điển tích về bà Ngô Thị Ngọc Lâm. Trong chiến cuộc Ái Tử năm 1572, nhận điềm báo từ thần sông, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng theo kế mỹ nhân, bà tự nguyện mang lễ vật vờ cầu hòa, dụ tướng Mạc là Lập Bạo vào trận địa mai phục để có được chiến thắng quan trọng giúp ổn định quân tình buổi đầu mở cõi. Về sau, bà hiển linh, được nhà Nguyễn ban tặng sắc phong thần, được thờ phụng trang trọng tại đình làng.

Đặc biệt, nơi đây có ngôi miếu cổ mang chức năng kép tối linh "Khai canh - Thành hoàng" rất độc đáo (đường Bạch Đằng), thờ đồng thời thần Thành hoàng bổn xứ và thần Thành hoàng Khai canh Vũ Duệ Hồ Đại tướng quân (có thể là nhân vật Hồ Long trong Ô châu cận lục - 1553). Tất cả được an trú trong công trình kiến trúc nhà rường và vôi vữa truyền thống, cùng hệ thống hoành phi, câu đối mang nhiều giá trị độc đáo, thể hiện tôn ti phép làng nghiêm minh thông qua bản Khoán lệ định rõ trật tự, lối sống nhân văn của cư dân một danh hương. Bên cạnh đó, ở xứ Đồng Trài, làng có Am Thần Nông- chủ thể đời sống lễ nghi nông nghiệp, gắn liền bà Mẹ Lúa với khát vọng cầu an, mưa thuận gió hoà, mùa màng bội thu.

Đáng chú ý, nơi đây thuôc trọng địa xây dựng Kinh thành Huế, sau này có thêm Sở Dưỡng tế dịch bệnh (1814). Năm 1803, khi vua Gia Long khảo sát địa cuộc xây dựng Đô thành Huế, Thế Lại là một trong 8 xã chịu ảnh hưởng trực tiếp, dân làng chấp nhận nhường phần ruộng đất, uynh mộ cho đại sự của triều đình. Đổi lại, dân làng được nhà nước bồi hoàn tiền bạc, miễn dịch trọn đời. Đến năm 1805, làng Thế Lại chính thức được triều đình liệt bộ lệ thuộc trực tiếp vào Kinh thành Huế dưới sự sai phái của Giám thành. Năm 1823, triều Minh Mạng chuẩn định là một trong 8 xã hộ thành (bảo vệ, tu sửa Kinh thành), dân đinh đến tuổi không được sung vào các nha môn. Từ năm 1814, khi dịch bệnh bùng phát, vua Gia Long đã cho lập Sở dưỡng tế đầu tiên tại xã Thế Lại. Đây có thể coi là mô hình bệnh viện y tế kết hợp cứu trợ xã hội công lập đầu tiên, nơi người bệnh được nhà nước cấp phát tiền, gạo, thuốc thang nuôi dưỡng; người chết được cấp tiền vải an táng, khẳng định vai trò an sinh xã hội đặc biệt của triều Nguyễn tại đây.

Trong nghiên cứu hương ước, Khoán lệ Thế Lại Thượng (1929) mang nhiều nội dung đặc sắc, thể hiện tư duy quản trị làng xã vừa nghiêm cẩn, vừa nhân văn của ngôi làng cổ xứ Huế. Điểm tiến bộ vượt trội là tinh thần "thu dọn điều phiền phức, chọn lấy cái giản lược" khi chủ trương cắt giảm các lễ nghi rườm rà, lãng phí, như tệ đốt "hàng nghìn bó giấy, hàng vạn lò hương" cùng tinh giản nhiều nghi lễ, đàn tiếu, khi "Nhà nước còn giảm bớt cái rườm rà huống chi làng ta".

Làng đã xây dựng một quỹ cứu trợ đồng bào rất tiến bộ bằng cách trích ruộng công cho thuê hoặc canh tác để lấy vốn lời, dùng hoa lợi trợ cấp cho người nghèo khổ/hoạn nạn, mất mùa. Đặc biệt, khoán lệ nổi rõ tính pháp trị nghiêm minh, chống đặc quyền và tham nhũng, kiên quyết bài trừ nạn tham nhũng, ăn chặn của công, kể cả việc ăn uống vô độ, gian tham xôi thịt tế lễ, hoặc say rượu hành hung… Hơn nữa, nhằm giữ gìn gốc rễ, làng nghiêm cấm việc tự ý đem đồ thờ thần cho thuê mướn, cấm ngặt việc bán ruộng đất công. Tất cả nhằm bảo lưu cốt cách tự hào của một ngôi làng văn hiến "tiếp mạch đô thành, đời trải trâm anh, ở nơi văn hiến, tên đề khoa bảng". Sự nghiêm cẩn trong việc phân chia vị thứ chỗ ngồi tại đình chính là công cụ duy trì tôn ti trật tự, để "trên làm dưới noi, kính người già tôn người lớn" của một làng quê kiểu mẫu phụ quách Kinh thành.

3. Tạm kết để mở ra một hành trình khám phá, trải nghiệm

Hai ngôi làng cổ Bao Vinh và Thế Lại Thượng là những mảnh ghép di sản hoàn hảo, phản ánh diện mạo văn hóa - lịch sử phong phú, đa chiều của vùng đất phụ quách Kinh thành Phú Xuân - Huế. Sự hiện diện song hành của hai làng cổ này đã minh chứng cho năng lực thích ứng mạnh mẽ của cư dân Thuận Hóa trước những biến động thời cuộc và cũng đại diện cho hai trục tư duy bổ trợ lẫn nhau trong dòng chảy văn hóa cố đô: cởi mở, hướng biển để giao thương mà vẫn thâm nghiêm, hướng nội để giữ gìn gốc rễ.

Nếu như Bao Vinh là biểu tượng của một đô thị cảng sông "làng trong phố" đầy phóng khoáng, nơi đi đầu trong giao thương mậu dịch quốc tế và tiếp biến văn hóa đa quốc gia, thì Thế Lại Thượng lại là hiện thân của một làng quê nông nghiệp bền vững “dĩ nông vi bản”, mang chiều sâu của những trang sử vàng mở cõi, nhường đất xây dựng Kinh thành và phụng sự triều đình. Đáng quý hơn, tất cả vẫn bảo lưu được sức mạnh nội sinh văn hóa mãnh liệt: một Bao Vinh "Việt hóa" Hoa thương bằng thiết chế tâm linh bản địa, và một Thế Lại Thượng gìn giữ kỷ cương, trật tự qua bản Khoán lệ giàu tính pháp trị lẫn tinh thần nhân văn sâu sắc.

Trong bối cảnh đương đại, khi Huế đang hướng tới tầm nhìn đô thị di sản toàn cầu, việc bảo tồn và phát huy giá trị của Bao Vinh và Thế Lại Thượng không còn là câu chuyện riêng của từng làng xã, mà đã trở thành nhiệm vụ chiến lược để gìn giữ hồn cốt xứ sở. Đó là chìa khóa để kết nối quá khứ huy hoàng với tương lai phát triển bền vững, nơi các giá trị lịch sử độc đáo không bị đóng băng mà tiếp tục là mạch nguồn văn hóa âm thầm chảy, nuôi dưỡng và làm giàu thêm bản sắc của vùng đất Cố đô hôm nay.

Trên dặm dài lịch sử, nơi đây không chỉ đơn thuần là hai địa danh cổ xưa mà là minh chứng thuyết phục nhất cho đặc trưng hội tụ và kết phát của một vùng "đất lành" xứ Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế. Như một quy luật tự nhiên của đất trời và nhân tâm, đất lành là nơi địa cát thủy tụ, cần chính sách bao dung cho hào kiệt và giao thương tụ hội. Chính nội lực thâm nghiêm, nghĩa tình của mảnh đất nông nghiệp bền vững Thế Lại Thượng cùng tư duy mở cõi, hướng biển, sẵn sàng ôm ấp và "Việt hóa" những dòng chảy văn hóa khác của thương cảng Bao Vinh đã tạo nên hấp lực mạnh mẽ cho một dải phụ quách Kinh thành. Bao Vinh - Thế Lại Thượng thực sự là một chốn bình yên sâu thẳm, mang nhiều giá trị và động năng văn hoá đặc trưng hấp dẫn, cần được chiêm nghiệm, khám phá và trải nghiệm.

Tiến sĩ Trần Đình Hằng
Phân viện trưởng Phân Viện Văn hóa, Nghệ thuật, Thể thao và Du lịch miền Trung