Chụp hình kỷ niệm với áo Nhật Bình

Chúng tôi đến xứ sở Europa lúc chớm thu năm 2025. Đó là một tuần lễ Geneve (Thụy Sĩ) chìm trong màn mưa bụi. Trong khi lang thang giữa những giờ phút ẩm mục, tôi chợt bắt gặp mùi phở thơm bay dọc theo Rue de la Servette. Một người Việt Nam đã mang phở sang tận đây, mở nhà hàng “La Maison d’Asea” cho nhân loại được nếm phở. Nhưng thú vị hơn, tôi gặp Huế ở đây trên nhiều bức ảnh chụp tranh của họa sĩ Mai Trung Thứ, đó là những bức ông vẽ trong những năm dạy học ở Trường Quốc Học từ 1930 đến 1937, như “Thiếu nữ Huế”, “Thiếu nữ chơi đàn Nguyệt”, “Chân dung cô Phương”, “Người phụ nữ đội nón lá bên sông”…

Thưởng thức hương vị phở Việt ở Geneve trong mưa, chúng tôi bất ngờ xúc động khi nghe những bản nhạc viết về Huế vang lên như “Mưa trên phố Huế”, “Ai ra xứ Huế” của Châu Kỳ, “Người em Vỹ Dạ” của Minh Kỳ…

Tôi đi dọc bờ hồ Leman, mưa bay qua Geneve nhẹ như tiếng chuông ngân khẽ, gợi nhắc những âm thanh đã vang vọng ở đây tiếng sáo của một người Việt yêu nước. Cụ Võ Thành Minh - Hồng Sơn Dã Mã đã ngồi thổi sáo và tuyệt thực bên hồ để đòi hòa bình, thống nhất cho Việt Nam.

Trong ngôi nhà nhỏ ở Bruxelles (Vương quốc Bỉ), Thu Hương - bà xã tôi hướng dẫn cho nhà thơ Quỳnh Iris Nguyễn de Prelle - người tổ chức Trung tâm Liên văn hóa Việt Nam - Thái Bình Dương (IVB) nấu món bún bò Huế, có cả ruốc, sả mang từ Huế sang. Thật tuyệt vời khi giữa Bruxelles nổi tiếng với những món frites (khoai tây chiên), gaufres (bánh quế)…, mùi ruốc, sả, ớt lại thoang thoảng bay trong không gian. Quỳnh học rất nhanh và món bún bò, giò heo Huế đã được trao truyền trong khoảng một giờ buổi sáng. Quỳnh đã tự tay múc bún cho chồng là Bertrand hiền lành và hai cô cậu Helene và Alexandre dễ thương. Các thực khách Bỉ đã vô cùng thích thú thưởng thức món bún bò, giò heo Huế được mẹ lần đầu tiên nấu ở trong căn bếp nhà mình.

Nghe tin tôi đến, Quỳnh và một số bạn trẻ đã tổ chức chương trình “Thi ca và Di sản”. Chương trình đọc thơ, giới thiệu về áo dài Hoàng cung Huế và trao đổi về câu chuyện văn hóa. Quỳnh bày biện không gian của chương trình rất đẹp và toát lên nét văn hóa Huế - Việt Nam ngay trong phòng khách. Một chiếc khăn thêu hoa văn đặt chéo trên chiếc bàn, trên đó là những tập thơ của nhiều tác giả trong nước. Chiếc áo “Tấc” mà Hương dày công mang sang được trang trọng trải rộng giữa phòng. Chiếc áo “Nhật bình” do tôi tặng năm trước đã được Quỳnh đưa đi giới thiệu ở nhiều nước châu Âu, giờ được thiết trần ngay cạnh chỗ chúng tôi ngồi đọc thơ. Tôi đã đọc cho các bạn trẻ xa xứ yêu thơ những bài thơ có gắn với di sản Huế như “Gánh cơm hến đi trong sương’’, “Biệt cung”, “Bình minh”…

Nửa sau chương trình, Thu Hương giới thiệu về áo dài Hoàng cung Triều Nguyễn với sự hiện diện của áo Tấc và Nhật bình. Ở giữa Bruxelles, áo dài Tấc và Nhật bình không chỉ là những lớp vải, đó còn là tiếng vọng của Huế, của một vương triều, của những nghi lễ và hơi thở đời thường. Khi hai tà áo ấy xuất hiện ở Bruxelles, nghĩa là Huế - Việt Nam đã hiện diện bằng vẻ đẹp thầm kín và kiêu hãnh của mình. Đó là cách văn hóa Việt đi vào thế giới bằng những đường chỉ lặng lẽ khâu nối ký ức và niềm tự hào mà Quỳnh và các bạn trẻ đã nhiệt huyết làm nên.

Sau lưng tác giả là cây cầu đường sắt Saint-Jean do Gustave Eiffel xây dựng ở Bordeaux, Pháp

Lúc đó, tôi bỗng có cảm giác như mình đang ngồi đâu đó bên bờ sông Hương, nơi tiếng mái chèo còn vọng lại từ thuở xa xưa. Thơ và áo dài Huế, hai mạch ngầm của văn hóa, đã tìm thấy nhau giữa lòng châu Âu như hai cánh tay nâng niu ký ức quê nhà. Quỳnh kể, chị Hoàng Hạnh, một người gốc Huế cũng đã mua bộ áo Tấc và Nhật bình tặng cho CLB Di sản áo dài Việt Nam tại Bỉ. Bộ áo đã trình diễn trong Chương trình “Gặp gỡ mùa thu Hòa bình” do Hội Phụ nữ Việt Nam tại Bỉ, CLB Di sản áo dài Việt Nam và Tổng hội người Việt Nam tại vương quốc Bỉ tổ chức tại châu Âu, Quỳnh cũng tham gia tổ chức sự kiện này.

Tại Bordeaux (Pháp), Trần Hồng Quế, cựu học sinh chuyên văn Quốc Học, một người con gái Huế bản lĩnh và lãng mạn, nụ cười thường trực trên môi đón và đưa chúng tôi đi. Quế sang làm việc ở đây từ năm 1998 nên gần như thuộc lòng các ngõ ngách của thành phố. Khi đi dọc bờ sông Garonne, chụp vài tấm hình kỷ niệm với chiếc cầu đường sắt Saint-Jean bắc qua sông do kỹ sư Alexandre Gustave Eiffel xây dựng, tôi bỗng nhớ về Huế bởi năm 1937, hãng Eiffel đã tiến hành đại trùng tu cầu Trường Tiền và đã tạo nên dáng dấp yêu kiều của cây cầu như ngày nay, hãng Eiffel cũng được mời trở lại để tái thiết cầu sau chiến sự vào năm 1953.

Ở Hà Lan, trong quán cà phê Majetic, chúng tôi gặp nhà thơ lão thành người Huế - Cao Xuân Tứ với câu thơ trứ danh về Amsterdam “Là đất thấp hơn biển/một đời người”. Câu thơ đã chạm đến nỗi niềm nhỏ bé và phù du của con người trước định mệnh thiên nhiên.

Nếu Amsterdam - Hà Lan phải gồng gánh biển cả, thì Huế lại phải chịu đựng dòng nước lũ cuồn cuộn từ Trường Sơn. Liên tưởng sâu sắc nhất chính là chữ “một đời người” gánh nặng kiên cường được truyền lại qua bao thế hệ. Mỗi mùa lũ qua đi, người Huế lại lặng lẽ đứng dậy, gầy dựng lại cơ nghiệp. Tình yêu thương và sự gắn bó với mảnh đất Cố đô này không chỉ là niềm tự hào, mà còn là bản hùng ca bền bỉ của sự sống.

Hồ Đăng Thanh Ngọc