Thu hoạch cá lồng trên sông Bồ 

Nghị định quy định chi tiết các nội dung quan trọng như: quỹ bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản; hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản; quản lý tàu cá và tàu công vụ; kiểm ngư; hoạt động mua bán, sơ chế, chế biến, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản và sản phẩm thủy sản; quản lý nhà nước về thủy sản. Đây được xem là cơ sở pháp lý nhằm đồng bộ hóa các quy định mới, đáp ứng yêu cầu phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững, hiện đại.

Điều kiện cơ sở nuôi trồng thủy sản

Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị định là việc quy định cụ thể điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật đối với cơ sở nuôi trồng thủy sản, theo quy định tại Điều 38 Luật Thủy sản.

Theo đó, nơi chứa chất thải phải được bố trí riêng biệt, tách rời khu chứa, xử lý thủy sản chết và khu vực nuôi, bảo đảm không gây ảnh hưởng đến môi trường. Trường hợp cơ sở có khu chứa trang thiết bị, dụng cụ, nguyên vật liệu phải đáp ứng yêu cầu bảo quản theo hướng dẫn của nhà sản xuất, nhà cung cấp. Khu sinh hoạt, vệ sinh trong cơ sở nuôi trồng cũng phải bảo đảm nước thải, chất thải sinh hoạt không ảnh hưởng đến khu vực nuôi.

Đối với nuôi trồng thủy sản trong ao, đầm, hầm hoặc bể, Nghị định yêu cầu bờ ao, bể phải được làm bằng vật liệu không gây ô nhiễm môi trường, không độc hại cho thủy sản nuôi và không bị rò rỉ nước. Riêng các cơ sở nuôi thâm canh, bán thâm canh phải có hệ thống xử lý nước cấp và nước thải riêng biệt, đồng thời bố trí nơi chứa bùn thải phù hợp.

Đối với nuôi trồng thủy sản bằng lồng bè, đăng quầng, khung lồng, phao, lưới, giá thể phải được làm từ vật liệu không gây ô nhiễm, không gây độc hại cho thủy sản và bảo đảm không để thủy sản sổng thoát ra môi trường. Ngoài ra, các cơ sở này phải có thiết bị cảnh báo bảo đảm an toàn cho hoạt động giao thông thủy.

Trang thiết bị sử dụng trong nuôi trồng thủy sản cũng phải đáp ứng yêu cầu chung là không gây ô nhiễm môi trường, không gây độc hại đối với thủy sản nuôi.

Phương án, dự án nuôi trồng thủy sản trên biển

Nghị định quy định, tổ chức, cá nhân đề nghị giao khu vực biển để nuôi trồng thủy sản phải lập dự án nuôi trồng thủy sản trên biển. Riêng trường hợp cá nhân thuộc đối tượng quy định tại khoản 3 Điều 44 Luật Thủy sản thì chỉ cần lập phương án nuôi trồng thủy sản trên biển.

Phương án hoặc dự án nuôi trồng thủy sản trên biển phải đáp ứng các tiêu chí như: đủ điều kiện nuôi trồng theo Luật Thủy sản và Nghị định; phù hợp về quy mô sản xuất, đối tượng nuôi và công nghệ áp dụng; có giải pháp phòng ngừa, ứng phó và khắc phục hậu quả thiên tai, sự cố; bảo đảm tính khả thi về kinh tế, kỹ thuật và hiệu quả kinh tế – xã hội.

Các trường hợp được miễn tiền sử dụng khu vực biển

Nghị định cũng làm rõ các trường hợp được miễn tiền sử dụng khu vực biển để nuôi trồng thủy sản, nhằm hỗ trợ người dân và khuyến khích chuyển đổi sinh kế bền vững.

Theo đó, cá nhân Việt Nam thường trú tại cấp xã, đang khai thác thủy sản bằng tàu cá có chiều dài lớn nhất dưới 12 mét và chuyển đổi nghề sang nuôi trồng thủy sản sẽ thuộc diện được miễn tiền sử dụng khu vực biển. Việc xác định đối tượng do UBND cấp xã căn cứ hồ sơ đăng ký, giấy phép khai thác thủy sản hoặc dữ liệu quản lý tàu cá để xem xét, quyết định.

Ngoài ra, cá nhân Việt Nam thường trú tại cấp xã, trực tiếp tham gia nuôi trồng thủy sản liên tục tối thiểu 24 tháng, có thu nhập từ hoạt động nuôi trồng chiếm trên 50% tổng thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân, cũng được xem xét miễn tiền sử dụng khu vực biển. UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức xác minh theo quy định của pháp luật.

Nghị định số 41/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 25/1/2026. Riêng quy định tại điểm c khoản 4 Điều 26 chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm Bộ Nông nghiệp và Môi trường công bố Sơ đồ nghề cá trên biển.

VPCP